Vinh danh nhóm tác giả viết bài

Tuesday, February 18, 2014

Hương rừng cà mau ( phần 11 )

Tóc của ông lỗ chỗ bạc , khi thì thả dài xuống khỏi lưng quần , khi thì bới thành búi to sau ót , gài lại bằng một cọng gai kim quít. Một bộ quần áo nghĩ cũng hơi dư mặc đối với ông! Nhiều khi dăm ba tháng liên tiếp ông phơi lưng trần với nắng , bên mấy gốc săn đá cây cổ thụ , lá cành xơ xác vì những cơn gió nạn lạm phát triền miên của biển khơi. Khi trời nực thì có những khe suối trong vắt đón mời. Ông cứ ung dung mà uống , mà tắm một cách tự nhiên , vô tình quấy rối giấc mơ của đàn bướm trắng đang xao động bay lên giập giờn như muốn rời mấy nhánh mai hoằng lưa thưa cúi nghiêng mình chấm mí nước….
Hôm nào vui cho bằng hôm hai bảy , hôm rằm! Ông Từ Thông ra sau rẫy , đào lên củ khoai môn to lớn đem luộc chín. Ngồi trên vồ cẩm thạch , ông chậm rãi ăn buổi chiều , chốc chốc rứt từ miếng khoai , thảy xuống nước. Loài cá nhỏ bu lại nhởn nhơ mổi con khoe một vẻ riêng. Tận dưới đáy biển , loại sò , loại ốc , loại nhum đang há miệng , le lưởi bò chậm chạp trên nền đá tím nổi gân vàng , trên nền đá vàng nổi gân trắng. Hoàng hôn tràn tới Ấy là lúc cảnh sắc dưới nước ngời lên , bóng mây phản ánh lóng lánh như gấm. Đêm về , mặt trăng mọc. Nơi thủy cung nhộn nhịp nào kém chốn trần gian! Từng đợt rong chìm lững lờ mơn trớn , khoác thêm lớp xiêm lụa mỏng cho bầy cá hường. Và muôn vì sao trên dải ngân hà sụp xuống đậu lốm đốm khắp nhánh gồm kim trắng bạch.
Ở hòn Cổ Tron giữa vời vịnh Xiêm La này , ông Từ Thông cơ hồ quên cả loài người và loài người cũng Đại khái quên rằng mình có một đồng loại ở ngoài mỏm đá chơi vơi kia. Điều ấy , chúng tôi không nên trách ai cả , chẳng qua là … hải giác thiên nhai. Không lẽ ông phải vượt bốn mươi cây số hải đạo để tới công sở Lại Sơn , bên Hòn Rái mà trình diện. Chính quan chủ quận Châu thành Rạch Giá còn ngán đi kinh lý đến làng Lại Sơn! Từ dinh quận của ông đến công sở làng ít nhứt cũng là năm chục cây số đường hải đạo minh mông sóng cồn. Mấy chiếc “ca nốt” oai hùng trong sông rạch chỉ là vỏ trứng vịt giữa biển. Nhà nước thực dân địa nào Đoái đến việc cung cấp tàu đồng , tàu sắt để quan chủ quận đi thống trị dân! không lẽ ông quận lại cởi ghe bầu hằng trăm cây số. Vả lại ghe bầu nào phải như chim trời mà bay thẳng một đường ngay. Ghe chạy theo đường gãy. Ngoài biển khơi , đường gãy là đường gần nhất giữa hai điểm cách nhau; cách khoảng gần trăm cây số trên kia kéo dài gấp ba , gấp bốn.
Năm ấy , tháng ấy , ngày ấy… ông Từ Thông bỗng nghe chút gì băn khoăn , rạo rực trong lòng ông và ở ngoài đời. Từng đàn chim sắc đen ngòm như bầy quạ lượn quanh hòn Cổ Tron , rú lên , rít lên , lắm lúc như toan đáp xuống , đột nhiên đảo ngược , đi thẳng một mạch khuất trong mây khói.
 - hôm nay họ làm cái gì vậy cà ?.
Ông Từ Thông tong tả trèo lên chót đá mà ngóng. Hướng Nam , hướng Tây , hướng Bắc không có gì lạ. Duy có hướng Đông: kìa , sừng sững dưới ánh nắng mai năm ba hòn đảo nhô lên , những hòn đảo mớI lạ. Ông trố mắt , liên hệ đến phép dời non lấp biển rất nhiệm màu của tay Thợ Trời khéo. Không thể nhầm lẩn được! Hồi nào đến giờ , ông rất sành sỏi về vị trí mấy hòn đảo nhỏ án ngữ xung quanh đây. Từ hòn đảo mới nổi ấy , một đốm trắng ngời , một chiếc “ca nốt” rồi hai chiếc , ba chiếc đang rẽ song chạy phăng lại nơi ông đang ở. “Tự năm bảy ngày nay , mình chưa mất lòng một con sâu , một con kiến , không lẽ bây giờ có kẻ báo oán mình ? Oán nào đã gây ra mà báo ?” Nghĩ vậy , ông trở xuống chân hòn sát mé biển chờ đợi.
Chập sau , mấy chiếc “ca nốt” xáp gần bờ; họ đưa tay ngoắc ông.
NgườI Việt Nam nọ lên tiếng:.
- Ông già! Lại đây quan lớn hỏi.
Ông Từ Thông nhìn năm , sáu ngườI mặc võ phục trắng đứng gần thầy thông ngôn. Mấy người mặc võ phục nói ríu rít. Ông đoán đó là “tiếng Tây”.
- ông già. Đây là Bu lô Đa ma?.
Ông đáp:.
- Dạ không biết. Nó là hòn Cổ Tron. Xung quanh đây là mươi hòn nhỏ khác. Không có nơi nào kêu là hòn Đa Ma….
- Vậy thì nó là hòn Nam Du , trong bản đồ ghi rõ đàng hoàng. Ông nói kỳ quá!.
Ông Từ Thông lắc đầu:.
- Dạ , lời thật khai ngay. Tôi không biết. Xung quanh đây là hòn Mẫu , hòn Dài , hòn Cổ Sơn , hòn Móng Tay.
Chập sau , thầy thông ngôn mớI đồng ý:.
- quả thế. Bu Lô Đa Ma hoặc hòn Nam Du là theo sách chữ nho , theo nhà binh. Hòn Cổ Tron là tên tục của nó. Nè ông lão! Quan lớn ra lịnh như vầy….
- Bẩm thầy , quan lớn là người của nước nào , tôi chưa rành.
- Ông giỡn sao chớ? hoặc ông ngủ mê? Cỡ này , nhà nước thực dân địa Tây đánh với nước Xiêm.
- Bẩm thầy , đánh ở đâu? Tôi chưa được am tường.
- Đánh với nước Cao Miên. Đánh luôn tại Bu Lô Đa Ma tức thị cái hòn Cổ Tron này.
Ông Từ Thông cau mày:.
- Mô Phật. Cầu xin Phật Trời….
Thầy thông ngôn đắc ý:.
- Không quan hệ đâu! Hễ làm con dân thì phải đảm đương bổn phận. Quan lớn muốn biết hổm rày có tàu bè lạ nào chạy tới đây thám thính không?.
- Dạ , không thấy.
- Hòn này bao nhiêu dân đinh?.
- Bẩm thầy , có đơn thân tôi thôi. Còn mấy hòn gần đây , tôi không rành. Chắc là năm bảy người , toàn dân “An Nam” mình.
- Được , thôi bây giờ quan lớn muốn ông kiếm dùm trái cây , nước thuốc ngọt. Rồi quan lớn cho tí đỉnh tiền… ThờI buổi này ông nên xài phí. Việc sống chết bất thường lắm.
Có lẽ sợ ông Từ Thông trốn luôn trên chót hòn nên thầy thông ngôn đi theo sát bên ông , sẵn sàng giúp ông quảy mớ chuối , mớ mít. Trước lạ sau quen , ông Từ Thông hỏI dọ đại khái về tình hình trong bờ:.
- Trận giặc này không biết dân “An Nam” mình hao nhiều không thầy?.
- Hỏi làm gì vậy? Ở đây yên thân già của ông rồi. Nghe nói dân miệt Hốc Môn , miệt Long Hưng… nhộn dữ lắm. Tám hướng gồm: Đông không muốn nói chuyện đó.
Một mối buồn len vào tâm trí ông Từ Thông. Ông nghe gió thổi tứ bề , lãnh đạm. Năm triều vua Trung Hoa tri như rực sáng nhắc ông món nợ gì đối với đồng bào , tổ quốc. Không giúp nước được thì ít nhất ông cũng cần biết những gì xảy ra đau buồn trong nước. Cây có cội. Nước có nguồn. Chim có tổ. Cá có hang. Đôi mắt già của ông Từ Thông ngơ ngẩn nhìn muôn lớp song cồn. Chân trời ảm đạm , mấy đám mây trắng bay thấp là đà… Ông hổ ngươi , tủi bấy phận mình không bằng con cuốc cuốc đêm hè kêu khắc khoải.
Thầy thông ngôn nói to khiến ông giựt mình:.
- Quan lớn đi về. Ông muốn xin điều gì , vật gì không? Ổng tử tế lắm.
Ông Từ Thông chắp hai tay ra điều cung kính:.
- Tôi muốn vô trong đất liền , miệt Rạch Giá thường cà mau gì cũng được để thăm bà con. Nhờ quan lớn cho giấy phép chớ thời buổi chinh chiến nầy… Tôi không có giấy thuế thân , hồi nào tới giờ.
Vị hải quân gật đầu. Thầy thông ngôn lia lịa rồi vị quan lớn ký tên. Ông Từ Thông cầm miếng giấy thông hành hộ mệnh nọ , khôn cùng mừng rỡ:.
- Chúc quan lớn đi bình an. Mà … quan lớn chạy “ca nô” về đâu?.
Thầy thông ngôn nói:.
- Về tàu lớn. Mấy chiếc tàu binh… của tôi sơn có vằn có vện. Ông không thấy sao? Họ sơn tàu lại cho giống cái hòn giữa biển. Gồm Hán sáng tụi tôi bỏ ống dòm thấy rõ ràng ông đứng trên chót hòn này. Nhờ vậy mà ông khỏi bị bắn. Ban đầu , quan lớn tưởng đâu hòn này là chiếc tàu binh của kẻ nghịch. Ông hiểu chớ?.
Chưa vô tới bờ chợ Rạch Giá là ông Từ thông cảm thấy cuộc đời đảo ngược , từ Cướp lấy quyền thế tuyệt đối tự do đến chổ mất tự do. Ông trung thành với núi sông nhưng cớ sao núi sông đối xử với ông quá bạc bẽo , ghẻ lạnh? Từ hòn Cổ Tron , ông quá giang tàu buôn Hải Nam đi một mạch tới hòn Tre , nhờ chiếc ghe câu kiều đưa vào chợ. Dè đâu tàu của sở “Đoan” truy hỏi. Miếng giấy thông hành nọ bị hoài nghi là giả mạo vì không có đóng mộc , vì đương sự không có giấy “lão” chứng tỏ rằng tên họ của mình đúng như trong giấy phép. Tàu “đoan” chở ông về giao cho ông cò Tây. Giam giữ ông được hai ngày , ông cò phú nội vụ qua dinh quận. Ông quận vốn là người mộ đạo Phật nên cho phép ông Từ Thông được tự do đi dạo chợ. Ông Từ Thông bộc bạch lý do:.
- Dầu muốn về hòn Cổ Tron , không dễ gì kiếm được ghe xuồng mà quá giang. Gió thổi nồm rồi. PhảI chờ mùa Bấc….
Dạo chợ mấy buổi , ông Từ Thông phát chán. Cầm mấy cắc bạc ( của ông chủ quận cho ) ông không biết nên mua sắm , ẩm thực những gì. Rốt cuộc , ông mua tiền xu khoai môn mà ngồi ăn ngon lành nơi góc chợ. Còn dư , ông vào tiệm quán xá mua nhang , đèn cầy để về cúng bà Chúa Hòn mặc dầu ngoài hòn không có chùa miễu gì cả. Ông cũng thích chí sực nhớ lại mua vài cây kim , nửa cân đường cát trắng.
Nhiều lần quan chủ quận viết thơ qua bót ông cò thăm hỏi nhưng không được sự giải quyết nào Quách. Không lẽ giam giữ ông Từ Thông mãi mãi? Nhìn vào bản đồ vịnh Xiêm La , ông quận nảy sanh ý kiến:.
- Hòn Cổ Tron tuy thuộc quận Châu thành nhưng nằm gần phía làng Đông Hưng , quận An Biên. Ngày năm tây tháng tới , ta đón thầy xã trưởng Đông Hưng mà gởi ông đạo này.
Rừng của làng Đông Hưng ảm đạm quá , khó mà Hết sức mắt quá vài công đất để tìm lại chân trời; nhá nhem là un khói lên , không như hồi ở ngoài hòn Cổ Tron , hồi ông ngủ trần không thèm mùng mền. Thầy xã trưởng giao trách nhiệm gìn giử ông cho thầy hương quản. Thầy hương quản lại đổ gánh nặng ấy cho người em vợ là hương tuần Hay.
Người giam giữ và người bị giam giữ lần hồi thông cảm nhau. Chú hương tuần lo đặt rượu đế. Ông Từ Thông đi cắm câu , kiếm “mồi” về nhậu.
- Ở đây vui quá phảI không ?.
Ông Từ Thông gật gù:.
- Không được vui lắm. Coi bộ bà con mình nghèo hơn ở ngoài hòn Cổ Tron của tôi. Áo quần không có. Mình mẩy bị ghẻ khuyết ăn lở lói thâm niên. Nhà cửa xiêu vẹo , nay ở mai dời… Chắc là tại giặc xiêm.
Hương tuần Hay trả lời:.
- Giặc đâu không thấy. Người ta đánh mà mình chịu cực mới đau thương cho chớ.
- Buồn quá chú hương tuần à.
- Hơi đâu mà buồn. Xứ nầy chịu cảnh nầy không biết tự hồi nào , từ hồi chưa có giặc Xiêm lận. Riết rồi quen , yên tịnh.
Ông Từ Thông thích chí:.
- Thì ở ngoài hòn Cổ Tron của tôi tư bề sóng gió nhưng mà cũng yên tịnh. Cớ sao? Vì xung quanh có hàng chục hòn khác án ngữ. Tôi là người tản cư , vô trong đất liền nầy thăm bà con… nhưng mà cũng yên tịnh. Nhờ bà con thương tình.
Ngày tháng trôi qua đều đều. Hôm ấy , không nhớ rõ hôm nào , thầy hương quản đọc báo Lục Tỉnh Tân Văn biết được tin trận giặc Xiêm đã chấm dứt. Tám hướng gồm: Đông và Xiêm tựa hồ thủ huề. Thầy tự ý ra lịnh trả tự do cho ông Từ Thông.
Ông Từ Thông ngạc nhiên:.
- Tôi bị giam hồi nào ?.
- Ông chủ quận biểu tôi giữ ông lại để làm tù binh , chờ mãn giặc mới thả ông về Cổ Tron.
- Về thì về , Không quan hệ đâu. Ông lẩm bẩm.
Thầy hương quản hỏi:.
- Hồi bị giam , ông có đồ đạc gì bị tịch thu không? Tôi kêu nài giùm.
- Vài ốp nhang , đèn cầy , kim may áo quần , đường cát trắng… nhưng mà thôi. Ở ngoải , dầu không có mấy thứ đó… nhưng cũng như có.
Gặp dịp tiện lợi , thầy hương quản tìm ghe cho ông quá giang ra hòn Sơn Rái.
Ông Bắt đầu khởi hành , hơi buồn.
Dư luận trong xóm nổi lên bàn tán. Người tuy là ông muốn truyền bá một thứ tôn giáo mới , tỷ dụ như “Đạo Tịnh” bằng cớ là ông ưa nói hai tiếng yên tịnh. Kẻ khác hoài nghi rằng ông ở Côn Nôn thả bè vượt ngục trốn về.
- Nè cha sành sỏi lắm! Cây đèn “măn sông” của Chệt Kỵ hư “béc” đốt không cháy , vậy mà cha sửa lại được trong nhấp nháy….
Lại còn nhiều giả thuyết khác độc hơn , tuy là ông thường lân la mấy nhà có đàn bà goá , gái tơ , vân vân….
Nhưng thời gian là vị trạng sư hùng biện nhứt phân trần cho ông Từ Thông. Dư luận bất chánh bị đánh tan , quên lãng. Kỷ niệm lần lần trở thành trong sáng , Xinh đẹp. Chiều chiều , khi ra bờ biển để câu cua , đẩy xịp , người ta nhớ ông Từ Thông như nhớ một cái vỏ ốc xa cừ ngũ sắc tấp vào bãi bùn. Như nhớ vài trang sách Phong thần kì cờ lượm được trong ngăn tủ bỏ quên , những trang sách rách nát kho khó hiểu vì thiếu hồi thứ nhứt và không có hồi sau phân giải.
Còn tiếp.

No comments:

Post a Comment